Cấp cứu: (04)3868 6251

Khoa tai - Tai thần kinh / Hoạt động chuyên khoa

Nghe kém ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ

Theo thống kê trên thế giới cứ 1000 trẻ sinh ra thì có 2-4 trẻ bị nghe kém. Tỷ lệ này có thể còn tăng lên do xuất hiện những trường hợp nghe kém mới sau sinh.

Nghe kém ảnh hưởng đến quá trình học nói và giao tiếp bằng ngôn ngữ, các trường hợp nghe kém nặng và điếc có thường dẫn đến trẻ bị câm.

Việc nhận thức về bệnh lý nghe kém, mức ảnh hưởng của nó cũng như các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, can thiệp kịp thời nhằm hạn chế tối đa ảnh hưởng tiêu cực đến bản thân trẻ, gia đình và xã hội.

GIẢI PHẪU TAI

Giải phẫu tai gồm 3 phần chính: Tai ngoài , tai giữa, tai trong.

          + Tai ngoài gồm vành tai, ống tai ngoài và mặt ngoài của màng nhĩ.

          + Tai giữa gồm hòm nhĩ, vòi nhĩ và các thông bào xương chũm phía sau hòm nhĩ, trong hòm nhĩ có xương búa, xương đe và xương bàn đạp cùng các hệ thống cơ, dây chằng.

          + Tai trong gồm ốc tai và tiền đình, ốc tai hình xoắn ốc 2,5 vòng, tiền đình hình đầu con thỏ như có 3 tai, ốc tai phụ trách nghe, tiền đình  phụ trách thăng bằng.

           + Các sợi thần kinh từ ốc tai tập hợp thành dây thần kinh ốc tai và đi lên não để dẫn truyền âm thanh.

Như vậy: Bệnh lý nghe kém bẩm sinh ở trẻ hay do tổn thương ở tai trong (vị trí ốc tai), ngoài ra có thể ở tai giữa, dây thần kinh ốc tai hay cả tai ngoài.

SINH LÝ NGHE

Phần này cần hỗ trợ của công nghệ thông tin để đưa phần dịch tiếng Việt vào trong video chạy phụ đề phía dưới, vẫn nói tiếng Anh hoặc quay lại hình ảnh chúng ta nói về sinh lý nghe là tốt nhất.

Âm thanh nói chung đi vào tai ngoài, tai giữa, tai trong rồi qua dây thần kinh ốc tai qua thân não, lên vỏ não và được giải mã giúp chúng ta hiểu được đó là âm thanh gì, mà lời nói là 1 tín hiệu âm thanh quan trọng nhất.

Tai ngoài có nhiệm vụ tiếp nhận và khuếch đại một phần âm thanh.

Tai giữa có vai trò chính là khuếch đại âm thanh từ tai ngoài đi vào.

Tai trong có nhiệm vụ chính chuyển tín hiệu âm thanh cơ học thành các tín hiệu điện sinh học dưới dạng xung thần kinh truyền qua dây thần kinh ốc tai sau đó qua  các chặng để lên não.

NGHE KÉM LÀ GÌ?

Là sức nghe của trẻ bị giảm so với bình thường, trẻ không nghe được tiếng nói thầm, âm thanh rất nhỏ của cuộc sống.

Với trẻ em ngưỡng nghe bình thường trên thính lực đơn âm là  ≤15dB do vậy ngưỡng nghe lớn hơn 15dB được gọi là nghe kém.

Nghe kém được phân thành nhiều mức độ khác nhau từ hơi nghe kém, mức độ nhẹ, trung bình nhẹ, trung bình nặng, nặng và điếc.

NGHE KÉM  CỦA TRẺ XẢY RA KHI NÀO?

Nghe kém bẩm sinh xuất hiện trước khi trẻ sinh ra.

Nghe kém do tai biến sản khoa trong quá trình sinh.

Nghe kém mắc phải do các nguyên nhân sau khi sinh.

NGHE KÉM CÓ THỂ PHÁT HIỆN BẰNG CÁCH NÀO?

Phản ứng với âm thanh, đặc biệt là các âm thanh lớn không giật mình khi nghe các tiếng động lớn.

Sàng lọc sức nghe cho trẻ sơ sinh bằng các phương pháp đo âm ốc tai, đo điện thính giác thân não tự động.

Trẻ không nói bập bẹ, không hóng chuyện, trẻ chậm nói hoặc không nói được  khi so với trẻ khác cùng lứa tuổi, trẻ nói ngọng.

Đánh giá sức nghe qua quan sát hình vi của trẻ với các kích thích âm thanh

Qua các phép đo âm ốc tai chẩn đoán, điện thính giác thân não và các phương tiện thăm dò sức nghe khác.

ĐỐI TƯỢNG TRẺ NÀO CẦN ĐÁNH GIÁ SỨC NGHE

Tốt nhất là tất cả các trẻ khi sinh ra đều được sàng lọc sức nghe, tuy nhiên thực tế hiện nay chỉ có một số tỉnh và thành phố được trang bị các thiết bị sàng lọc sức nghe nên nếu các bà mẹ sinh con ở các cơ sở có trang thiết bị sàng lọc sức nghe thì cần tham gia chương trình sàng lọc sức nghe cho trẻ.

Những trẻ có nguy cơ cao bị nghe kém cần sàng lọc và kiểm tra sớm:

+ Mẹ bị sốt phát ban nghi Rubella trong thời kỳ mang thai.

+ Có anh chị em hoặc bố, mẹ bị nghe kém bẩm sinh.

+ Đẻ thiếu tháng, suy dinh dưỡng bào thai.

+ Có các dị tật khác như vành tai, tim, mắt…

+ Nhiễm trùng sản khoa trước sinh: nhiễm trùng ối

+ Trong lúc sinh: đẻ khó, thiếu ô xy.

+ Trẻ phải nằm tại khoa cấp cứu do ngạt khi đẻ, nhiễm trùng, thở máy hỗ trợ, dùng kháng sinh vì viêm phổi…

+ Không phản ứng với các tiếng động lớn.

+ Vàng da bệnh lý sơ sinh.

+ Với các trẻ nhỏ tùy lứa tuổi không có phản ứng với các kích thích âm thanh, và phát triển ngôn ngữ kém so với các bạn cùng tuổi.

KHI NÀO CÓ THỂ ĐÁNH GIÁ SỨC NGHE

Thời điểm sàng lọc cần tiến hành trong tháng đầu tiên sau sinh.

Chẩn đoán cần được tiến hành sớm trước 3 tháng.

Trong trường hợp không đảm bảo mốc thời gian nêu trên thì cần tiến hành sớm nhất có thể.

CẦN ĐÁNH GIÁ SỨC NGHE BAO NHIÊU LẦN CHO TRẺ?

Cần nhiều phương pháp khác nhau  khi trẻ thức cũng như trẻ ngủ, khi áp dụng phương pháp chủ quan cũng như khách quan để để đánh giá sức nghe.

Không thể dựa vào 1 lần đánh giá duy nhất và một phương pháp để khẳng định chính xác sức nghe cho trẻ.

Nguyên tắc là làm nhiều lần, ít nhất 2-3 lần, bằng các phương pháp khác nhau.

CÓ THỂ ĐÁNH GIÁ SỨC NGHE CHO TRẺ Ở ĐÂU?

Sàng lọc ở các bệnh viện sản hoặc các trung tâm điều trị tích cực bệnh viện nhi nếu được trang bị phương tiện.

Khoa Thính- Thanh học Bệnh viện Tai Mũi Họng TW khám, sàng lọc và chẩn đoán sức nghe cho mọi đối tượng từ trẻ sơ sinh đến người cao tuổi.

Các bệnh viện và trung tâm khác có nhân sự chuyên khoa về thính học và trang bị máy móc phù hợp đều có thể sàng lọc, chẩn đoán sức nghe cho trẻ.

NGHE KÉM CÓ THỂ NHẦM LẪN VỚI CÁC BỆNH LÝ GÌ

Hay nhầm lẫn với các rối loạn hành vi như tăng động, tự kỷ, kém tập trung hoặc chậm phát triển trí tuệ.

Hoặc nhầm lẫn với việc mải chơi, không để ý.

Nói ngọng do các nguyên nhân không phải nghe kém.

NGHE KÉM CÓ PHÒNG NGỪA ĐƯỢC KHÔNG?

Có thể phòng ngừa được ở một số các trường hợp:

+ Bệnh lý nhiễm trùng: Mẹ cần tiêm phòng theo chương trình tiêm chủng đặc biệt bệnh hay gặp là Rubella.

+ Chăm sóc trong quá trình mang thai, tránh suy dinh dưỡng bào tai…

+ Đề phòng tai biến sản khoa: Cần được theo dõi và đăng ký sinh ở cơ sở y tế chuyên môn nhằm giảm thiểu tai biến  khi sinh.      

+ Phòng tránh các nhiễm trùng sau sinh như viêm phổi, viêm não , màng não.

+ Phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vàng sơ huyết tán sơ sinh bệnh lý.

+ Phát hiện và điều trị kịp thời các bệnh lý viêm nhiễm tai mũi họng.

+ Phòng chống nghe kém do tiếng ồn, do chấn thương, do dùng thuốc có hại cho tai…

NGHE KÉM CÓ ĐIỀU TRỊ ĐƯỢC KHÔNG?

Nghe kém do bệnh lý tai ngoài và tai giữa có thể điều trị được bằng nội khoa, ngoại khoa tuy nhiên còn tùy thuộc vào nguyên nhân gây bệnh, mức độ ảnh hưởng, cơ địa của trẻ cũng như các yếu tố khác.

Máy trợ thính và điện cực ốc tai là các thiết bị hỗ trợ phục hồi chức năng nghe chứ không phải là biện pháp để chữa khỏi bệnh nghe kém, thường được chỉ định cho các bệnh lý tai trong hoặc một số trường hợp bệnh lý tai giữa.

KHI NÀO CẦN ĐEO MÁY TRỢ THÍNH HOẶC CẤY ĐIỆN CỰC ỐC TAI CHO TRẺ?

Ngay khi xác định về mặt chẩn đoán nghe kém mà có chỉ định dùng máy trợ thính thì phải dùng máy trợ thính ngay cho trẻ, thông thường từ lúc trẻ 3-6 tháng tuổi.

Chỉ định cấy điện cực ốc tai khi trẻ nghe kém nặng hoặc điếc mà dùng máy trợ thính không hiệu quả. Thời gian sớm nhất để phẫu thuật khi trẻ được 1 tuổi.

TRẺ ĐEO MÁY TRỢ THÍNH VÀ CẤY ĐIỆN CỰC ỐC TAI CÓ THỂ ĐI HỌC VỚI TRẺ BÌNH THƯỜNG KHÔNG?

Hiệu quả của máy trợ thính và điện cực ốc tai phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố:

          + Mức độ nghe kém, nguyên nhân nghe kém.

          + Thời điểm can thiệp sớm hay muộn kể từ khi bị nghe kém, can thiệp càng sớm thì hiệu quả càng cao và ngược lại.

          + Hoạt động của thiết bị trợ thính về tính hiệu quả, thời gian đeo máy, công nghệ áp dụng, các thiết bị hỗ trợ không dây khác.

          + Môi trường nghe của trẻ có nhiều người nói chuyện và dạy trẻ nghe nói hay không.

          + Tuân thủ các bài tập phục hồi chức năng nghe nói

          + Sự hỗ trợ của gia đình, nhà trường, xã hội.

Các trường hợp nghe kém nhẹ và trung bình thì hiệu quả của máy trợ thính thường tốt và trẻ có thể hòa nhập với các trẻ bình thường. Với trường hợp nghe kém nặng và điếc thì hiệu quả của máy thường kém và phải cấy điện cực ốc tai và có thể hòa nhập với trẻ bình thường hay không cũng phụ thuộc vào các yếu tố nêu trên.

VÌ SAO PHẢI ĐEO MÁY SỚM, LIÊN TỤC VÀ THƯỜNG XUYÊN?

Sự phát triển kết nối giữa các tế bào thần kinh tăng rất nhanh những tháng sau sinh gấp 20 lần từ 50 nghìn tỷ lên 1000  nghìn tỷ kết nối, nếu không có kích thích âm thanh thì kết nối vùng vỏ não thính giác rất kém phát triển, sẽ được sử dụng vào chức năng khác.

Lúc 3 tuổi kích thước của não đã đạt 2/3 so với người lớn.

Trẻ bình thường nghe 46 triệu từ khi được 4 tuổi.

Nếu trẻ dùng thiết bị trợ thính chỉ 4h/ngày thì phải mất 6 năm mới nghe được những điều mà trẻ bình thường chỉ nghe trong 1 năm.

90% điều trẻ học được trong thế giới này là nghe lỏm.

Trẻ bị nghe kém phải học nghe từ mới gấp 3 lần so với trẻ bình thường cho dù có sự trợ giúp của các thiết bị tiên tiến.

Trẻ cần tới 20.000 giờ nghe để có thể đọc được.

CÁC LƯU Ý NẾU TRẺ PHẢI DÙNG MÁY TRỢ THÍNH HOẶC ĐIỆN CỰC ỐC TAI ĐỂ CÓ HIỆU QUẢ TỐT:

Cần chẩn đoán sớm và can thiệp sớm.

Công nghệ thiết bị phù hợp.

Đeo máy toàn bộ thời gian, nhiều nhất có thể, trừ khi đi ngủ, lúc tắm hoặc ra ngoài trời mưa làm ướt máy.

Tuân thủ liệu trình phục hồi chức năng nghe nói với vai trò nòng cốt là gia đình, giáo viên trị liệu ngôn ngữ, nhà trường và xã hội.

Các mốc cần nhớ về thời gian là sàng lọc sức nghe trước 1 tháng tuổi, chẩn đoán mất sức nghe trước 3 tháng, can thiệp đeo máy trợ thính trước 6 tháng tuổi, cấy điện cực ốc tai bắt đầu từ 1 tuổi.

 

Phạm Tiến Dũng, Nguyễn Thành Quân, Lâm Quang Hiệt

Các bài viết khác:

+ Khoa Tai - Tai thần kinh

024.33771199

© BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG TRUNG ƯƠNG

thảm bếp

thảm sảnh tòa nhà

quay bong

Thảm lông xù

Thảm phòng khách lông ngắnThảm lông ngắn

Địa chỉ: 78 Đường Giải Phóng - Đống Đa - Hà Nội

Điện thoại: (84-24) 3868 6050 - Fax: (84-24) 3868 6522

Ghi rõ nguồn ‘Bệnh viện tai mũi họng Trung ương’ khi phát hành lại thông tin từ các nguồn này. 

Phát triển bởi 3SSOFT


Online :456 - Tổng truy cập: 770556